Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Lương tâm công chức


Công chức trong bộ máy nhà nước của chúng ta hiện công tác tại các cơ quan hành chính sự nghiệp, trong đó có các cơ quan công quyền, nơi mà thương xuyên tiếp xúc với công dân, chiếm một tỷ lệ khá lớn. Họ là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm và hưởng lương từ ngân sách nhà nước để thực thi những công việc mang tính công vụ trong các cơ quan công quyền. Trách nhiệm của công chức là nặng nề, sự chuyên nghiệp, trong sạch của họ là nền tảng của một bộ máy nhà nước vững mạnh. Chính vì vậy mà trong chủ trương cải cách hành chính, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ công chức luôn luôn được chú trọng.  
Mặt tích cực liên quan đến công chức là cơ bản, nhưng bên cạnh đó, những khái niệm mang “màu sắc tiêu cực” như quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu v.v…cũng là những cụm từ gắn liền với bộ máy công quyền mà cụ thể hơn là cán bộ công chức. Với mặt bằng đồng lương  như hiện nay, thì thu nhập của công chức quả là khiêm tốn. Để giữ được mình, để lương tâm không phải cắn rứt vì làm những điều sai trái, vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực v.v…là một thử thách luôn đặt ra cho những công chức chân chính.                 
Do đồng lương còn khiên tốn mà không ít người phải bằng nhiều cách, để có thêm thu nhập ngoài lương. Tuy nhiên, không thể vin vào lý do đó mà tìm cách tăng thu nhập bằng mọi giá, bất kể pháp luật và đánh mất cả tính nhân văn, nhân bản vốn có của một con người lương thiện. Đây đó vẫn còn xảy ra tình trạng những cán bộ công chức đối xử với người dân một cách vô cảm, thiếu tình người. Có những việc có thể giải quyết được trong một buổi hay một ngày nhưng họ cố tình kéo dài, mà nhiều người gọi là “ngâm” thêm nhiều ngày, những người đó là một người thuộc tầng lớp càng bình dân càng bị “hành” nhiều. Hình như, trong đầu một số công chức, phải bắt người dân đi lại nhiều lần, mới “nâng được uy quyền” và “tầm quan trọng” của mình!? Mặc dù chỉ cần một hướng dẫn là có thể hoàn tất công việc. Có những trường hợp, người dân được hướng dẫn điểm A, theo giấy hẹn đến lại những tưởng đã được giải quyết nhưng lại phát sinh thêm điểm B, vậy là phải quay về để lo cho đủ nhưng chưa chắc đã yên, trong thực tế đã có người phải đi 3-4 lần hoặc hơn thế nữa. Mặc dù việc đó, đối với một cán bộ, công chức có lương tâm chỉ cần giải quyết trong vòng một này hoặc vài ngày. Có những người dân, thực sự khó khăn về kinh tế hoặc kiên quyết không chịu chung chi, nên chấp nhận đi lại lên xuống nhiều lần. Nhưng bên cạnh đó cũng có người tặc lưỡi buông xuôi, đưa phong bì để công việc được trôi chảy và giải quyết nhanh. Từ đó tạo ra sự “ăn quen” của một số công chức thoái hoá biến chất. Bên cạnh đó, có những điều tưởng chừng như phí lý mà người ta cũng đang tâm làm cho được được, phần vì sự vô cảm, phần vì muốn vòi vĩnh để có phong bì. Cũng có những trường hợp, khi người dân đến làm thủ tục chờ chữ ký để đóng dấu, nhân viên nói thủ trưởng đi vắng chưa có người ký, nhưng thực ra lãnh đạo lại đang ngồi trên gác, vậy mà cũng đành đoạn nói dối để người ta phải ra về, hẹn đến vào bữa khác. Thế nhưng trường hợp người đó nói quen vị lãnh đạo kia và điện thoại liên lạc được thì lập tức được người nhân viên đó niềm nở mời lên gặp để giải quyết ngay!!!
Có những công chức “tiết kiệm” lời ăn tiếng nói, nụ cười đến mức tối đa. Người ta đến đưa giấy tờ đến để công chứng thì ra dấu gõ lên tấm kính có treo thông báo trước mặt chỉ nơi công chứng đã chuyển đi nơi khác. Có những người khi dân đến làm việc thì mặt lạnh như tiền, hỏi thì hất hàm, trả lời thì cộc lốc, đáng tuổi con cháu người ta mà nói năng không có chủ ngữ, nét mặt không có chút biểu cảm…Ấy vậy nhưng khi có phong bì lại tươi tắn, hồ hởi sốt sắng ngay.
Để sống trong sạch, có lương tâm, người công chức phải đấu tranh rất nhiều với không ít cám dỗ, bên cạnh việc nâng cao năng lực chuyên môn phải đặc biệt quan tâm tu dưỡng rèn luyện đạo đức tư cách của người công chức, thậm chí phải tập nói, tập cười,  tập mời, tập tiễn... Những chuyện  tưởng như chỉ có trong nhà trường hay gia đình đối với lứa tuổi thiếu niên nhi đồng. Có như vậy mới có một đội ngũ những công bộc xứng đáng trong bộ máy nhà nước, một nhà nước của dân, do dân và vì dân một cách đúng nghĩa  

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

Đổ xô hay đổ đồng chuyện "cướp hoa" ở Đà Nẵng



Đăng lại bài của Hải Châu trên Infonet

Ngay những ngày đầu xuân mới Quý Tỵ 2013, dư luận báo chí cả nước đã rộ lên scandal về chuyện "cướp hoa" xảy ra trên đường hoa xuân Bạch Đằng của TP Đà Nẵng vào sáng 17/2 (tức mồng 8 Tết). Có thể thấy gì từ những dư luận trái chiều chung quanh sự kiện này?
Rất nhiều bạn trẻ không chỉ ở Đà Nẵng mà còn ở nhiều địa phương trong cả nước chọn đường hoa xuân Bạch Đằng để lưu lại dấn ấn xuân Quý Tỵ - Ảnh: HC

Là người làm báo nhiều năm ở Đà Nẵng, trước tiên tôi có thể khẳng định những người đầu tiên đưa tin trên các báo (sau đó nhiều trang mạng xã hội lấy lại) về việc xảy ra chuyện "cướp hoa" trên đường hoa xuân Bạch Đằng đều là những phóng viên đang công tác trên địa bàn TP. Dù làm việc cho báo này, báo khác nhưng có thể nói họ đều làm việc, sinh sống ở Đà Nẵng, có cha mẹ, anh em, bà con, thầy cô, bạn bè... ở TP này. Nói cách khác, họ đều là "công dân" Đà Nẵng (cho dù có thể có người chưa có hộ khẩu ở đây) chứ không phải là người "qua đường" nào đó nhân cơ hội "nói xấu" TP.
Bởi thế, có lẽ cũng như mọi người dân đang sống trên địa bàn Đà Nẵng, họ cũng có niềm tự hào về TP mà mình đang sống. Vậy nên có thể hiểu việc họ phản ảnh chuyện "cướp hoa" trước hết là để bày tỏ thái độ không đồng tình đối với những điều mà theo họ là làm xấu đi hình ảnh của TP, và sau đó không có gì khác hơn là mong muốn người dân có ý thức hơn, các cơ quan hữu quan hữu có sự quản lý tốt hơn để không còn xảy ra những điều không hay tương tự.
Tuy nhiên, có thể nói, do cách họ gọi tên sự vật, sự việc vừa diễn ra mà đã dẫn đến những dư luận trái chiều trên các mặt báo cũng như trên các trang mạng xã hội. Là người từng theo dõi, đưa tin hoạt động của đường hoa xuân Bạch Đằng từ khi mới có những ý tưởng đầu tiên cho đến khi hình thành, đi vào hoạt động và kết thúc, tôi nghĩ mình có thể tự đặt câu hỏi: Cái cách mà một số đồng nghiệp gọi những gì vừa xảy ra là "cướp hoa" liệu đã đúng hay chưa?
Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng, nếu nói dân Đà Nẵng mang ý thức "cướp hoa" thì có lẽ đường hoa xuân Bạch Đằng đã tan nát ngay từ những ngày đầu tiên chứ không đợi đến khi Ban tổ chức tiến hành tháo dỡ vào sáng 17/2. Cũng cần nhắc lại, theo kế hoạch ban đầu, đường hoa xuân Bạch Đằng chỉ diễn ra từ tối 27 tháng Chạp (ngày 7/2) đến tối mồng 5 Tết (ngày 14/2). Nhưng do có nhiều ý kiến đề nghị của người dân và du khách nên đến "phút 89", lãnh đạo TP Đà Nẵng đã cho phép kéo dài thời gian tổ chức đường hoa này thêm 2 ngày.
Có kẻ cướp nào lãng mạn và thanh lịch đến thế này chăng? Ảnh: TNO 

Nếu nói dân Đà Nẵng mang ý thức "cướp hoa" thì có lẽ chí ít chuyện đó đã xảy ra vào tối mồng 5 Tết, vì từ trước ai cũng biết đó là thời điểm đường hoa xuân Bạch Đằng kết thúc, chứ mấy ngày Tết ít ai đọc báo để biết đường hoa này được kéo dài thêm 2 ngày. Thế nhưng chuyện "cướp hoa" đã không hề xảy ra. Và người dân TP cũng như du khách thập phương có thêm được 2 ngày thưởng lãm đường hoa xuân lần đầu tiên xuất hiện tại Đà Nẵng. Thậm chí đến sau 22h đêm 16/2 (tức mồng 7 Tết), khi đường hoa đã chính thức kết thúc thì cũng không hề có chuyện "cướp hoa".
Mãi đến sáng 17/2, khi đơn vị tổ chức đường hoa xuân Bạch Đằng là Công ty TNHH VietArt OOH tiến hành tháo dỡ đường hoa thì mới xảy ra chuyện mà một số báo và trang mạng xã hội cho là "cướp hoa", "tranh giành hoa", "xâu xé đường hoa"... Tôi xin tạm gác chuyện mình là một trong những người trực tiếp chứng kiến những gì đã xảy ra sáng hôm ấy, mà chỉ thấy "quái lạ" về những hình ảnh cùng những lời bình luận của một số đồng nghiệp khi đưa tin về sự kiện này.
Quái lạ! Bởi làm sao có những người tóc đã hoa râm, những chàng thanh niên mang kính cận đầy vẻ trí thức, những cô gái dáng vẻ hết sức thanh tú, những thiếu nữ ăn mặc thanh lịch, dạo phố bằng chiếc xe đạp với vài chậu hoa nhỏ trên giỏ xe, những bậc đáng tuổi cha, tuổi chú cầm trên tay vài nhánh mồng gà... mà cũng trở thành "kẻ cướp". Chẳng lẽ "kẻ cướp" quanh ta nhiều đến thế hay sao? Càng quái lạ hơn khi những "kẻ cướp" này lại cười rất tươi với lực lượng Cảnh sát cơ động, cho dù tác giả bản tin đã cố tình chú thích rằng đó là nụ cười "cầu tài". Chẳng lẽ lực lượng Cảnh sát cơ động Đà Nẵng lại dung túng cho "kẻ cướp" như vậy?
Và họ đã cướp những gì? Quan sát hình ảnh được đăng tải trên tất cả các báo, có thể thấy mặc dù đường hoa xuân Bạch Đằng với hơn 100 loài hoa, trong đó có rất nhiều loại có giá trị cao, nhất là những cây mai, cây đào cổ thụ, lan, địa lan... và rất nhiều loại vật dụng trang trí thuộc loại đắt tiền... Thế nhưng những gì mà "bọn kẻ cướp" kia lấy đi lại chỉ là cúc mâm xôi, cẩm chướng, hoa bướm, hoa mồng gà... và quan trọng nhất là đều còn khá tươi, có thể tiếp tục trưng bày thêm vài ngày nữa. Hoá ra những "kẻ cướp" đường hoa Bạch Đằng chỉ chuộng những thứ rẻ tiền thôi sao?
Chỉ vài nhánh hoa lấy được sau khi kết thúc đường hoa cũng bị xem là "kẻ cướp"? Ảnh: TNO
Tôi có một đứa con đang gửi trẻ ở một trường mầm non thuộc phường Thuận Phước (gần với đường hoa xuân Bạch Đằng). Sáng 18/2, khi chở cháu trở lại trường ngày đầu tiên sau Tết Nguyên đán, tôi thấy trong sân trường có chừng chục chậu hoa các loại như vừa kể trên. Tôi hỏi một cô giáo có phải lấy từ đường hoa về hay không? Bỗng dưng cô gần như nức nở: "Sáng hôm đó thấy người ta tháo dỡ đường hoa, có khá nhiều hoa còn tươi mà vứt vào xe rác thì uổng quá nên bọn em đến xin. Mấy anh ở đó cho nên bọn em đem về trang trí sân trường cho đẹp. Sau này hoa tàn thì còn mấy cái chậu nho nhỏ có thể dạy cho các cháu học cách trồng hoa. Thế mà người ta bảo là bọn em cướp hoa. Anh thấy có ức không?".
Có lẽ tôi xin không bình luận gì thêm về câu chuyện của cô giáo trường mầm non mà chỉ xin nêu ý kiến của ông Lê Tấn Trung Ba, Phó Giám đốc Công ty TNHH VietArt OOH: "Chúng tôi nghĩ rằng nếu một số hoa còn sử dụng mà vứt đi thì quá lãng phí, và nếu số lượng hoa này được tiếp tục sử dụng thì sẽ trân trọng được công sức của những người trồng hoa, cũng như góp phần làm đẹp cho những ngôi nhà, khu vườn... Vì vậy chúng tôi đã đồng ý để cho một số đơn vị thu gom mang về trang trí, tiếp tục sử dụng để làm đẹp thêm cảnh quan tại những nơi công cộng.
Về hình ảnh mà một số báo cho rằng người dân đến “cướp” hay “tranh giành” hoa trước sự lúng túng của Ban tổ chức, chúng tôi khẳng định không có sự việc “cướp” hay “tranh giành”. Ở đây người dân nghĩ rằng hoa dùng xong, nếu đem đi bỏ hết sẽ phí phạm, trong khi vẫn còn có thể sử dụng được thì đến lấy mang về nhà. Trong đó rất nhiều người đã đến gặp trực tiếp Ban tổ chức để xin lấy hoa rất đàng hoàng lịch sự".
Tuy nhiên, ông Lê Tấn Trung Ba cũng nêu rõ: "Cũng có một số người có hành động thái quá, có ý định lấy luôn một số vật dụng khác đang được Công ty thu hồi, dẫn đến hình ảnh có phần lộn xộn, mất trật tự. Lực lượng cảnh sát cơ động và các lực lượng chức năng đã có mặt kịp thời nhắc nhở người dân và ổn định trật tự tại khu vực này". Như vậy, phải chăng một số báo đã có sự đánh đồng rồi dẫn đến quy chụp cho tất cả những người đến lấy hoa ở đường hoa xuân Bạch Đằng đều trở thành "kẻ cướp"?
Người đàn ông tóc đã hoa râm này sẽ nói gì với con cháu mình khi bị liệt vào hạng "kẻ cướp" dù thứ ông lấy chỉ là một chậu cúc mâm xôi sau khi đã trưng bày xong ở đường hoa xuân Bạch Đằng suốt một tuần? Ảnh: TNO

Các đồng nghiệp của chúng tôi ở báo Lao động khẳng định: "Những hành động trên dù là “yêu hoa”, “níu xuân” nhưng thái quá, đã trở nên không không đẹp mắt. Nặng hơn là vô ý thức, đáng xấu hổ… Tuy nhiên, nhất định đấy không phải là hành động ăn cướp, trộm hoa như một số báo điện tử, mạng xã hội đã đăng tải sau đấy, đã gây xúc phạm đến người dân Đà Nẵng".
Chính từ sự đánh đồng, quy chụp đó đã dẫn đến những lời chê trách trên một số trang mạng. Không ít người cho rằng bằng việc tranh giành hoa náo loạn, người Đà Nẵng đã không thể hiện được phong cách văn minh của cư dân tại một trong những đô thị  được coi là đáng sống nhất Việt Nam. Ngay lập tức nhiều người Đà Nẵng bày tỏ phản ứng gay gắt. Bên cạnh nhiều ý kiến khá bình tĩnh để "nói lại cho rõ" với bè bạn thập phương về sự thật đã diễn ra trên đường hoa xuân Bạch Đằng, đáng tiếc là cũng có một số ý kiến tỏ ra thái quá. Đại loại như: "Nếu mấy bác nghĩ dân Đà Nẵng như thế thì cứ việc, đừng tới đây du lịch hay mua nhà cửa gì cho mệt!"...
Rõ ràng, tiếp theo sau hành động thái quá của một số người, dù không phải là "cướp hoa" như lời ông Lê Tấn Trung Ba, thì những ý kiến thái quá như vừa nêu trên có thể sẽ càng làm xấu thêm hình ảnh của Đà Nẵng, nhất là nó bộc lộ tư tưởng cục bộ địa phương. Nhiều người dân Đà Nẵng từng tỏ ra rất sung sướng khi bạn bè các nơi khen CSGT của TP mình văn minh, lịch sự, thông cảm, giúp đỡ người từ nơi xa đến chưa quen đường quen xá chứ không chỉ chăm chăm thổi phạt thu tiền. Vậy thì sao khi bị chê về chuyện "cướp hoa", dù có thể chỉ là hiểu nhầm, lại có ý "đóng cửa" với thiên hạ như thế?
Theo tôi, thực ra chỉ mỗi sự hiểu nhầm về chuyện "cướp hoa" (dù điều này thực sự đã xảy ra ở địa phương khác) mà đã làm bùng lên dư luận sôi nổi như vừa qua thì đó là điều... hạnh phúc của Đà Nẵng. Nó cho thấy TP này đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý của dư luận cả nước. Rõ ràng Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ đến mức nào đó thì mới có thể thu hút được sự quan tâm như vậy. Và đi cùng với sự quan tâm là sự kỳ vọng Đà Nẵng sẽ ngày càng tốt hơn, đẹp hơn, đáng sống hơn như đúng mục tiêu mà TP này đang phấn đấu vươn tới.
Lực lượng Cảnh sát cơ động Đà Nẵng dung túng cho "kẻ cướp" vì nụ cưới "cầu tài"? Ảnh: TNO
Đại thi hào Nguyễn Du từng viết: "Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa". Đà Nẵng đã chọn cho mình mục tiêu trở thành một "TP đáng sống", thậm chí đã tự hào về điều đó với bè bạn khắp nơi thì cũng phải chấp nhận gánh lấy trọng trách mà người dân cả nước đang kỳ vọng vào mình, phải chấp nhận mỗi bước anh đi, mỗi việc anh làm đều được soi rọi dưới rất nhiều lăng kính, có thiện cảm, có khắt khe, và tất nhiên cũng có cả những tị hiềm, đố kỵ. Nếu không muốn phải gánh lấy tất cả những sự "chấp nhận" đầy khó khăn đó, Đà Nẵng chỉ cần đơn giản trở thành một anh làng nhàng như bao anh khác. Thế là xong!
Rất may trong suốt chặng đường vừa qua, Đà Nẵng đã biết từ một anh làng nhàng vượt lên để trở thành một điểm sáng của cả nước. Vậy thì Đà Nẵng hẳn cũng sẽ biết cách vượt qua một cách tích cực nhất đối với những nỗi khó chịu từ dư luận về chuyện "cướp hoa" để xứng đáng hơn với sự kỳ vọng cả bạn bè cả nước. Chỉ xin nhắc rằng, không phải vô cớ mà sau khi cơ ban hoàn thành mục tiêu "TP 5 không" (không có hộ đói, không có người lang thang xin ăn, không có người mù chữ, không có giết người để cướp của, không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng), Đà Nẵng đã hướng đến mục tiêu "3 có".
Trong đó, bên cạnh hai mục tiêu "có nhà ở" và "có việc làm" thì một mục tiêu rất quan trọng cũng được đặt ra là "có nếp sống văn minh đô thị". Và có lẽ mọi người Đà Nẵng đều đồng ý rằng đây đang là mục tiêu mà mỗi người dân TP đều cần phải tiếp tục phấn đấu. Chắc chắn sẽ không có sự hiểu nhầm về chuyện "cướp hoa" vừa qua nếu mỗi một người dân Đà Nẵng đều có nếp sống văn minh đô thị, không có ai có những hành vi thái quá khiến cả cộng dồng phải chịu tiếng xấu lây!
HẢI CHÂU

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Chuyện xung quanh những câu nói của ông Nguyễn Bá Thanh


  Hơn 10 năm qua, mình có may mắn được tham dự không ít những cuộc họp, hội nghị, buổi nói chuyện do ông Nguyễn Bá Thanh, từ khi là Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đến khi là Bí thư Thành ủy  Đà Nẵng chủ trì. Sự dí dỏm, dân dã, đầy tính thực tế và cả quyết liệt trong cách truyền đạt của ông chắc đã có nhiều người nói. Ở đây tôi chỉ có đôi điều về những câu nói, câu chuyện của ông mà bản thân trực tiếp nghe được, vì nó liên quan đến ý tưởng, chủ đề để mình viết bài đăng báo hoặc đơn giản là nó để lại những ấn tượng đối với bản thân về một lĩnh vực, quan điểm sống nào đó mà mình cho là tâm đắc…
          Trước hết, về chủ đề để đăng báo, có 3 bài viết mình rất tấm đắc, viết rất nhanh và có cảm hứng là do xuất phát từ những lần nghe Bí thư Thành ủy nói chuyện. Bài đầu là bài “Văn hóa xấu hổ”, nó xuất phát từ câu chuyện Bí thư kể  trong một Hội nghị mà tôi không nhớ rõ là năm nào, đại ý là “Ngày nay cần phải có khái niệm “Văn hóa xấu hổ” vì có những cán bộ, nói thì nhiều, nói hay mà làm thì ngược lại hoặc nói mà không làm, những người này cần phải biết thế nào là “văn hóa xấu hổ”… Bài thứ 2 là bài “Dây kinh nghiệm”. Chuyện vui này Ông nói trong một kỳ họp HĐND thành phố, làm cho các đại biểu cười ồ. Nôm na: “Có một sợi dây dài nhất là “dây kinh nghiệm” vì cứ rút mãi mà nó không hết. Khi có khuyết điểm, thiếu sót, tiêu cực, nếu bị phát giác, phê bình kiểm điểm thì trước hết là người ta…rút kinh nghiệm. Cái “sợi dây” này cứ rút mãi năm này qua năm khác mà nó vẫn còn. Nên nó được xem là cái “dây” dài nhất…Bài thứ 3 là bài "Bình yên thành phố" xuất phát từ phát biểu của ông tại Kỳ họp thứ 17 HĐND thành phố về chuyện "đất nước có hòa bình nhưng chưa thái bình, vì làm sao gọi là "thái bình" được khi người ta ra đường cứ nơm nớp sợ tai nạn giao thông do đám đua xe, cứ lo bị cướp giật, bị "đinh tặc", bị đâm chém chỉ vì những lý do hết sức đơn giản..."
          Về các đề tài khác, nói về việc cẩu thả trong diễn đạt câu chứ trong văn bản, báo cáo, Ông lấy ví dụ về một đoạn văn, do dùng sai dấu mà làm nội dung sai một li đi một dặm. Đoạn câu mô tả bộ đội tấn công đồn giặc, đáng lẽ viết là “bộ đội ta tấn công vào đồn, giặc chết như rạ…” nhưng vì cẩu thả trong sử dụng dấu câu mà viết là “bộ đội ta tấn công vào đồn giặc, chết như rạ…” Từ chỗ thắng lợi đến thất bại chỉ  cần một dấu phẩy đặt khác vị trí trong câu viết.
          Về công tác cán bộ, về nghệ thuật dùng người cũng có nhiều câu chuyện để nói. Riêng câu chuyện họa sỹ vẽ ông vua chột mắt, tôi nghe đến 3 lần nhưng vẫn cảm thấy không nhàm. Chuyện là ngày xưa, có một ông vua bị chột một mắt và thọt 1 chân. Một hôm vua cho truyền lệnh sẽ ban thưởng hậu hĩnh cho ai vẽ được bức tranh về mình mà làm thể nào để vừa đẹp vừa chân thật. Họa sỹ đầu tiên xin ứng thí. Bức tranh  mô tả vị vua này, mắt và chân đều đầy đủ, lành lặn, không có biểu hiện gì của người khiếm khuyết về hình thể cả. Sau khi xem tranh, vua truyền lệnh chém đầu chàng họa sỹ kia tức khắc. Người thứ 2, xin ứng thí, bức tranh mô tả vị vua kia rất chân thực, vì là thấy rõ con mắt chột và cái chân thọt, nhưng cũng không khả quan gì hơn khi người vẽ bị xử trảm sau khi vua xem xong. Lúc đó, ai cũng run sợ không dám tham gia thi vẽ tranh nữa vì nghĩ rằng, sẽ cầm chắc cái chết. Vậy mà cuối cùng cũng có một tay họa sỹ “xin chết”. Bức tranh họa sỹ này mô tả vị vua đang phi ngựa, trông oai phong lẫm liệt, 1 cánh tay tay giương cung lên bắn, cái tay được chàng họa sỹ vẽ một cách khéo léo để che  đi cái mắt chột, còn cái chân thọt cũng không thấy được vì khi cưỡi ngựa, chỉ thấy bên chân lành còn chân thọt nằm ở phía bên kia thân ngựa. Sau khi xem ông vua rất tâm đắc và ban thưởng hậu hĩnh cho chàng họa sỹ. Thế là, đã không bị xử trảm lại còn được thưởng lớn chỉ vì biết vẽ khéo.  
          Phân tích chuyện Tây Du ký, Ông Bí thư nói, cái tay Trư Bát Giới xấu xí, ham hố, tham ăn, mưu cũng không cao, vậy mà tỉ tê thế nào  lại làm Đường Tam Tạng lại nghe theo. Thế nhưng, khi có nguy nan  thì đều phải nhờ tới tài trí của Tôn Ngộ Không…
Liên quan đến chuyện những cán bộ vòi vĩnh “đòi ăn”, có đút lót, “bì bọt” mới chịu làm, Ông ví những người đó giống như con cá heo trong rạp xiếc, người huấn luyện phải bỏ vào miệng nó thức ăn nó mới chịu diễn trò, nếu không có cái gì vào mồm nó cứ lơ ngơ, không biết làm gì. Và kết luận, đừng đòi được “ăn” rồi mới chịu làm, lấy những người có tư tưởng đó làm lãnh đạo thật nguy hiểm.
          Một chuyện khác, ông kể bên Nhật, người ta tuyển “nhân tài” từ lứa tuổi còn nhỏ. Trong một tình uống, những đứa trẻ được xếp hàng trước một dãy băng chuyền gồm những cốc nước chạy trước mặt, đến vị trí của đứa bé nào đứa trẻ đó được yêu cầu uống thử cốc nước chạy ngang trước mặt mình. Lần lượt, 8 cậu bé được uống thử 8 li nước, tất cả đều cho nhận xét như nhau là nước có vị ngọt    ( nói thật). Đến đứa trẻ thứ 9, “ban tổ chức” khéo léo tráo vào đó một li nước pha muối, đứa trẻ,  khi cầm li nước này lên uống, đáng lẽ phải nói thật là nước mặn thì lại lưỡng lự một chút rồi nói…ng…ọ..t , chỉ vì thấy 8 đứa kia đều đã nói là ngọt rồi. Kết quả là đưa trẻ thứ 9 này bị loại do không trung thực và không "kiên định lập trường". Không biết chuyện này đúng sai thế nào nhưng cũng là một bài học cho việc dùng người.
          Nói về Chương trình “Táo quân về trời” trên Gala cười cuối năm Tân Mão 2011, ôgn nói: xem thì cười khoái chí đấy nhưng ngẫm lại thấy “có vấn đề”: “hóa ra, toàn những Táo nào làm dở thì mới được lên Thiên đình báo cáo “thành tích” cho Ngọc Hoàng, chẳng thấy Táo nào có thành tích thật sự xuất hiện cả. Chưa hết, lên đến Thiên đình rồi mà còn quà cáp cho Ngọc Hoàng, lại còn bỗ bã kếu bằng “anh Hoàng” chẳng nghiêm túc chút nào... Kết thúc buổi gặp gỡ tất cả về lại hạ giới trong vui vẻ…
          Kể về những câu chuyện, câu nói của ông Bí thư Thành ủy Đà Nẵng mà nay vừa được Bộ chính trị điều ra Trung ương lo việc đại sự  thì còn nhiều, mình chỉ lấy vài dẫn chứng gọi là tâm đắc nhất, xin kể ra đây để suy ngẫm về một vị lãnh đạo đã tạo nên một Đà Nẵng như hôm nay và cũng là để chiêm nghiệm về nhân tình thế thái về bài học cho cuộc sống đang cần những bước đột phá để đi lên

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

NHỮNG CÁI TẾT TRONG TÔI




Tết, cái từ đơn giản nhưng đã ăn sâu vào tiềm thức trong mỗi con người Việt Nam chúng ta, ngay từ khi biết cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống. Tết cũng bao hàm nhiều ý nghĩa, để lại nhiều kỷ niệm riêng khó phai đối với mỗi người. Đối với lứa tuổi “6X” chúng tôi, những người có may mắn được sống qua 2 thế kỷ, chứng kiến được nhiều cái Tết của những giai đoạn lịch sử đáng nhớ, để đến bây giờ, có thể tự hào kể lại cho con cháu nghe về một thời hào hùng, gian khó nhưng đầy lạc quan của cha anh, để chúng hiểu hơn về quê hương đất nước.
Cái Tết đầu tiên mà tôi cảm nhận được là khi tôi bước vào cái tuổi lên 6, không hiểu sao đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in cái thời khắc Giao thừa năm ấy, cả nhà quây quần quanh cái đài bán dẫn trong cảnh đèn dầu, bên bếp lửa bập bùng với nồi bánh chưng đang sôi ùng ục, bên ngoài lác đác vài tràng pháo…, để nghe lời chúc Tết của Bác Hồ kính yêu:
 “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Đó là cái Tết Mậu Thân 1968, khi ấy, tuy còn nhỏ nhưng tôi đã cảm nhận được ít nhiều cái không khí phấn khởi của mọi người về tin chiến thắng dồn dập bay về từ miền Nam. Đối với những cán bộ tập kết như ba má tôi, lại càng phấn chấn, làm cho lũ trẻ chúng tôi đã vui còn vui hơn.
Năm tháng ấy, lũ trẻ thật háo hức mong Tết đến để được mặc áo mới, dù là một cái áo pôpơlin, cái quần “xanh sĩ lâm” mà ba dẫn đi mua ở cửa hàng bách hóa. Nhớ ngày mùng một Tết, tiền mừng tuổi cộng lại được… 5 hào, đi bộ mấy cây số lên phố huyện chơi, để rồi chỉ mua về một con lợn đất giá 3 hào, bọc trong cái mũ nhung, ôm khư khư trong người, ấy vậy mà gần đến nhà sơ sẩy thế nào lại làm rơi, vỡ tan “báu vật”, tiếc đứt ruột, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc buồn khó tả đó.
Cái Tết 1969, như những Tết trước, ai cũng háo hức mong đến thời điểm Giao thừa để nghe Bác Hồ chúc Tết, năm đó không khí có phần trầm lắng hơn, có lẽ đó là “điềm báo”, tết này là cái tết cuối cùng còn được nghe Bác chúc tết và tôi vẫn còn nhớ lời chúc tết năm ấy của Bác:
“Năm qua thắng lợi vẻ vang, năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào, Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”
Quả thật, đó là cái tết chúng tôi được nghe Bác chúc tết lần cuối cùng, trước khi Bác đi xa vào tháng 9 năm đó. Những cái tết sau đó, cứ mỗi lần giao thừa, chúng tôi lại cảm thấy hẫng hụt, thấy thiêu thiếu một cái gì đó rất đỗi thân thương mà mỗi khi giao thừa đến, mặc dù ngoài trời tối đen và lạnh giá, lại thấy trong lòng ấm áp đến kỳ là bởi vì giọng nói trầm ấm của Người.
Cuộc sống vẫn còn muôn vàn khó khăn, cả miền Bắc làm tất cả vì miền Nam ruột thịt, máy bay Mỹ vẫn thường xuyên bắn phá, gạo thịt, đường… mua theo chế độ tem phiếu… Lũ trẻ chúng tôi vẫn học hành, lớn lên trong cảnh đất nước đang có chiến tranh, chỉ được mấy ngày tết là có vẻ bình yên, được ăn uống tươm tất hơn với hoa đào, bánh chưng và tràng pháo trong mọi nhà.
Trong bối cảnh đó, sự lạc quan của người lớn làm cho bọn trẻ chúng tôi thấy vui hơn mỗi khi tết đến xuân về. Một niềm vui khó tả, mà những năm tháng của thời kỳ đổi mới và hội nhập này không dễ dàng có được.
Cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân và dân Thủ đô Hà Nội và miền Bắc, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử, đặt dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh phá hoại lần 2 của đế quốc Mỹ, hiệp định Pari về hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Tuy một nửa đất nước vẫn còn trong cảnh đạn nổ bom rơi nhưng đối với miền Bắc khi ấy, cái tết năm 1973 có thể xem là cái tết hòa bình, không còn tiếng máy bay gầm rú, không còn phải nghe tiếng còi báo động, không còn đội mũ rơm đến trường… Một cái tết trong cảnh đất nước vẫn còn nghèo nhưng bình yên hơn. Tất cả lao vào học tập lao động sản xuất và chi viện cho một nửa đất nước, hướng đến một ngày vui thống nhất trọn vẹn non sông.
Tết năm 75, mặc dù miền Nam chưa giải phóng nhưng đã cảm nhận được cái không khí chiến thắng gần kề, tin vui từ miền Nam tới tấp bay về không khí tết năm đó thêm rộn ràng, khẩn trương, báo hiệu mùa xuân trọn vẹn đang tới gần.
Quả vậy, không lâu sau Tết Ất Mão 75, miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng, đất nước liền một dải. Không bút mực nào có thể tả xiết niềm vui vô bờ bến này. Mùa xuân năm 75 đã đi vào lịch sử, đánh dấu một mốc son chói lọi của dân tộc. Mong ước cháy bỏng của Bác Hồ kính yêu trong lời chúc tết cuối cùng trước lúc người đi xa “Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn” đã thành hiện thực.
Tết năm 76 cái đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất và cũng là cái tết cuối cùng gia đình tôi ăn tết trên đất Bắc thân yêu. Một cái tết thật ý nghĩa mà chúng tôi thường gọi là “tết góp”, vì trong tết này, hàng xóm ở khu tập thể chúng tôi tổ chức ăn tết theo kiểu mỗi nhà góp vài món, gọi là độc đáo nhất của nhà mình, tập trung vào một nhà để cùng chung vui, một cái “tết thống nhất” đúng nghĩa mà mọi sự chúc mừng đổ dồn về những gia đình có người miền Nam tập kết như gia đình chúng tôi.
Ba má tôi lại có dịp trổ tài nấu các món ăn miền Trung, miền Nam để mọi người thưởng thức như đồ trộn, cơm gà Hội An, chả ram Sài Gòn v.v... Không khí tết năm đó thật vui nhưng cũng ẩn chứa bao nỗi lưu luyến, bịn rịn do gia đình tôi phải chia tay với bà con hàng xóm thân thương, chia tay với nơi chúng tôi sinh ra, lớn lên và được cưu mang đùm bọc để theo ba má về lại quê cha đất tổ.
Những cái tết sau đó, sau khi gia đình chuyển về Đà Nẵng là những cái tết của thời bao cấp, của cấm vận kinh tế, của chiến tranh phía Bắc, Tây-Nam. Khó khăn nối tiếp khó khăn. Nhớ lại đó là những cái tết của những năm tháng đó mà mấy nhà ở khu tập thể cùng rủ nhau bắc bếp trên hành lang để vùng ngồi canh nồi bánh chưng. Cả khu tập thể cách vài nhà lại có một thùng bánh chưng củi lửa nghi ngút, tiếng cười đùa rôm rả thâu đêm. Những năm trước năm 1996, trước tết cả nửa tháng, pháo đã nổ râm ran, càng gần ngày giáp tết pháo nổ càng nhiều, chỉ làm cho người ta càng thêm sốt ruột. Cũng may là sau đó, Nhà nước đã cấm hẳn chuyện đốt pháo, lúc đầu cũng cảm thấy “tết không pháo” thấy có vẻ thiếu hụt một cái gì đó quen thuộc “rất tết”. Nhưng lâu rồi cũng thấy quen và thấy… khỏe cả người vì không bị quấy rầy bởi những tiếng ồn đinh tai nhức óc và hít phải khói pháo mù mịt...
So với bây giờ thì những cái tết trước năm 2000 còn thiếu thốn nhiều, tết đến trong nhà có được một tờ lịch một trang, có hình ảnh, màu sắc sặc sỡ là đỡ lắm rồi, nhà nào khá mới có lịch nhiều tờ, rượu tết mà có chai rượu Thanh Mai là “ngon” rồi, đâu có đuề huề bánh mứt, rượu bia như bây giờ.
Vậy mà những cái tết đó vẫn vui… như tết. Mọi người quan tâm đến nhau, hỏi thăm, chúc mừng nhau chân thành, con cháu được lì xì vừa phải, đôi khi chỉ mang tính tượng trưng. Đó là những cái tết có giá trị đối với thế hệ chúng tôi, không thể so sánh với cái tết bây giờ nhưng dám chắc rằng, những năm tháng đó, đất nước càng khó khăn, tết lại càng đầm ấm và có ý nghĩa, chân tình, “tết ra tết”, ai cũng mong ngóng chờ trông tết đến….
Một mùa xuân mới lại đến, một cái tết nữa lại về, trong niềm vui chung đó, chúng tôi, những người thế hệ “6X” vẫn không thể nào quên những cái tết của một thời đất nước gian khó nhưng ấm áp tình người, thiếu thốn vật chất nhưng tinh thần thì phơi phới dậy tương lai.
Chúng tôi có quyền hãnh diện về điều đó và nhắc nhở con cháu, giờ đây sống trong hòa bình, yên ấm nhưng phải biết về điều đó để hiểu hơn về thế hệ cha anh, từ đó xác định được trách nhiệm, bổn phận của mình đối với tương lai đất nước trong giai đoạn mới đầy vinh quang và thử thách.