Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

NÓI KHÔNG VỚI NẠN PHONG BÌ: PHỤ THUỘC VÀO LƯƠNG THÁNG VÀ LƯƠNG TÂM

Trách nhiệm của công chức là nặng nề, sự chuyên nghiệp, trong sạch của họ là nền tảng của một bộ máy nhà nước vững mạnh. Chính vì vậy mà trong chủ trương cải cách hành chính, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ công chức luôn luôn được chú trọng. Mặt tích cực liên quan đến công chức là cơ bản, nhưng bên cạnh đó, những khái niệm mang “màu sắc tiêu cực” trong đó có nạn “nhận phong bì” cũng thường gắn liền với bộ máy công quyền mà cụ thể hơn là cán bộ công chức. Với mặt bằng đồng lương  như hiện nay, thì thu nhập của công chức quả là khiêm tốn. Để giữ được mình, để lương tâm không phải cắn rứt vì làm những điều sai trái, vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực v.v…là một thử thách luôn đặt ra cho những công chức chân chính.                 
Do đồng lương còn khiên tốn mà không ít người phải bằng nhiều cách, để có thêm thu nhập ngoài lương. Tuy nhiên, không thể vin vào lý do đó mà tìm cách tăng thu nhập bằng mọi giá, bất kể pháp luật và đánh mất cả tính nhân văn, nhân bản vốn có của một con người lương thiện.  Có những công việc,  đối với một cán bộ, công chức có lương tâm chỉ cần giải quyết trong vòng một buổi, thậm chí vài chục phút nhưng đối với một số người thì đây là cơ hội để họ “nhận phong bì” bằng cách gây khó dễ để được “bồi dưỡng”. Có những người dân, thực sự khó khăn về kinh tế hoặc kiên quyết không chịu chung chi, nên chấp nhận đi lại lên xuống nhiều lần. Nhưng bên cạnh đó cũng có người tặc lưỡi thả tay, đưa phong bì để công việc được trôi chảy và giải quyết nhanh. Từ đó tạo ra sự “ăn quen” của một số công chức thoái hoá biến chất. Bên cạnh đó, có những điều tưởng chừng như phí lý mà người ta cũng đang tâm làm cho được được, phần vì sự vô cảm, phần vì muốn vòi vĩnh để có phong bì.  Có những người khi dân đến làm việc thì mặt lạnh như tiền, dân hỏi thì hất hàm, trả lời thì cộc lốc, đáng tuổi con cháu người ta mà nói năng không có chủ ngữ, nét mặt không có chút biểu cảm như cái máy…Ấy vậy nhưng khi có phong bì lại tươi tắn, hồ hởi sốt sắng ngay.
Mới đây bên lề Quốc hội, đại biểu Trần Du lịch đã phát biểu với báo chí rằng “Cũng nên giáo dục một quan điểm ngay từ đầu, từ nhỏ: Anh đã làm công chức thì hãy xác định là phục vụ cho nhân dân, đừng bao giờ anh mơ tưởng đến làm giàu. Muốn làm giàu thì hãy ra khu vực tư nhân mà làm. Làm quan chức mà để mong giàu có thì phải trị ngay cái tư tưởng đó”. Ý kiến này của vị đại biểu Quốc hội, nhìn từ  góc độ của một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp là rất chính xác và nói một cách dân dã là rất chí lý, nhưng nó sẽ thuyết phục hơn khi người công chức, viên chức của chúng ta có đồng lương đủ sống không phải vướng bận gì về chuyện “cơm áo gạo tiền” để tập trung dồn hết tâm sức để cống hiến, để phục vụ bộ máy mà mình được tuyển chọn, sử dụng, chứ không phải sống với đồng lương khiêm tốn, để rồi phải tranh thủ kiếm tiền để lo cho gia đình, con cái, một tình trạng khá phổ biến hiện nay.
Trong sự đan xen, mâu thuẫn giữa bản chất của công chức mà một bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh cần với những nhu cầu rất đời thường của mỗi con người để làm được một công chức đúng nghĩa quả là không dễ. Phải dũng cảm mà nhìn thẳng vào sự thật và nói với nhau một cách “đời thường” một chút là, giữa một bên là  sự cám dỗ, sức hấp dẫn của đồng tiền và bên kia là đồng lương ít ỏi của công chức, viên chức, quả là một ranh giới khá mỏng manh.
Đối diện với thực tế là lương không đủ sống thì tất yếu buộc con người phải toan tính, mưu cầu cuộc sống. Một vị lãnh đạo một cơ quan công quyền, nay đã nghỉ hưu, từng bộc bạch với người viết rằng, thật lòng là khi nhận cái phong bì của cơ sở cho nhân một dịp lễ tết nào đó, nôm na gọi là “lộc”, tuy đó không phải là tiền chạy chọt hay hối lộ gì nhưng vẫn “cảm thấy nhục lắm chứ”. Vì nghĩ đến chuyện ngày mai tiền học cho con, tiền chữa bệnh cho mẹ già lấy ở đâu mà đành tặc lưỡi nhận cái phong bì đó. Tất nhiên nếu với đồng lương đủ sống, đủ lo cho những chuyện đời thường của bản thân, của gia đình thì người ta đâu đến nỗi phải nhận những khoản “lộc” trong tâm trạng không lấy gì làm thoải mái như vậy!
Trong thực tế thì mức lương chính thức của công chức quá thấp so với khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Ngay cả so sánh với khu vực doanh nghiệp Nhà nước, đã tạo ra sự không công bằng trong xã hội. Lương không đảm bảo cuộc sống của bản thân công chức và gia đình họ (có thể ước tính chỉ đáp ứng 30 – 40% nhu cầu tối thiểu của một gia đình công chức). Vì thế, công chức buộc phải xoay sở để có thêm thu nhập; trong đó có những thu nhập hợp pháp. Song, có khá nhiều thu nhập không chính đáng, bất hợp pháp dựa vào quyền lực của công chức (những người có quyền cấp đất, cho thuê đất, có quyền duyệt dự án đầu tư, cấp tín dụng, cho khoanh nợ; có quyền bổ nhiệm chức vụ, có quyền can thiệp vào kết quả xét xử của tòa án…) mà thực chất là tham nhũng hay cụ thể hơn là “nhận phong bì”.

Đến đây quay trở lại câu nói của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch, muốn làm giàu sao người ta không ra làm ngoài tư nhân mà vẫn có người bằng mọi giá để vào làm công chức!? Phải chăng nơi đó có chỗ để “làm giàu”?!  Một nghịch lý không khó nhận ra về lương công chức và mức sống của họ khong tương xứng như vậy mà mà chúng ta vẫn không đi thẳng vào tìm nguyên nhân, nguồn cội của những nghịch lý đó trong khi vẫn “đẩy mạnh cải cách tiền lương, tinh giản biên chế, chống tham nhũng, lãng phí” từ hết năm này đến năm khác. Cứ để tình trạng đó kéo dài mà không đi vào giải quyết căn nguyên của vấn để thì sẽ tiếp tục tồn tại một bộ phận công chức giàu có nhưng cũng…đi tù vì  tham nhũng lúc nào không hay, tạo ra những công chức có lối sống làm giàu bất chấp thủ đoạn khiến băng hoại giá trị đạo đức trong xã hội.  Đó chính là thực tế và tương lai gần rất đáng lo ngại đố với bộ máy nhà nước đang rất cần tinh gọn và trong sạch của chúng ta. Chuyện “cấm nhận phong bì”ở thành phố Hội An nếu suy rộng ra cả nước, không đơn thuần chỉ là một chủ trương, biện pháp của một địa phương mà cái chính là  phải giải quyết được căn nguyên gốc lõi của bài toán “Bao giờ cán bộ, công chức sống được nhờ lương”?  

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

CÔNG AN VÀO CUỘC Ư? MUỘN MẤT RỒI!

Đọc báo mấy hôm nay thấy vụ bắt cóc tồng tiền, sau đó giết hại vứt xác xuống sông  cháu  Lư Vĩnh Đạt, một học sinh vừa tròn 18 tuổi ở quận Bình Tân – TPHCM, thấy thật xót xa xen lẫn bức xúc. Đặt trường hợp mình là cha, mẹ của em Đạt thì sao không xót xa được khi có một đứa con trai mới 18 tuổi, khôi ngô tuấn tú, bị giết hại một cách dã man trong khi gần 1 tuần bọn bắt cóc nhắn tin về giá đình đòi tiền chuộc mà cuối cũng cũng không cứu được con. Bức xúc là vì gia đình đã báo vụ việc cho Công an Phường An Lạc A và Q. Bình Tân  ngay từ đầu, tin nhắn thì bọn tống tiến liên tục  gửi về  từ ngay chính số máy của cháu Đạt, vậy mà cuối cũng chỉ nhận được một kết cụ đau thưong là cái xác bị bỏ bao thả sông, trong khi bọn bắt cóc tống tiền vẫn “biệt vô âm tính”. Cả một khoảng thời gian dài như vậy và sau cái chết của Đạt gần 2 ngày thì hôm nay mới thấy báo đưa tin là “Công an TP. HCM vào cuộc”!
Mình là dân thường, nhưng cũng biết chút ít về chuyện xử lý nhưng vụ tống tiền có liên quan đến chuyện đe dọa giết chết con tin. Và chắc chắn rằng nghiệp vụ này của công an thì bái bản, chuyển nghiệp khỏi phải bàn. Vậy mà, sao họ lại thờ ơ và chậm chập đến như vậy!?  Giả sử CA phường, quận không đủ trình đọ phá án thì phải báo ngay cho CA thành phố chứ, trong khi tính mạng của cáhu Đạt bị đe dọa từng ngày từng giờ. Sao không khoanh vùng địa điểm nhắn tin của bọn tội phạm bằng cách kết nối máy của bố mẹ em Đạt với bộ phận nghiệp vụ để xác định vị trí nhắn, khong theo dõi những người lạ lảng vảng trước nhà em Đạt mà gia đình đã ghi được cả số xe của bọn chúng... Nếu bọn tội phạm dùng sim rac thì còn khó nhưng ở đây bọn chúng dùng ngay chính máy của nạn nhân để gọi, nhắn tin mà vẫn không có biện phát truy tìm ráo riết thì thật là tắc trách. Trong khi đó, bọn tống tiền đã đe dọa giết em Đạt nếu gia đình báo Công an, lại cho đồng bọn bọn theo dõi gia đình, mà Công an lại không xem đó là chuyện nghiêm trọng. Đến khi em mất rồi, Công an TP mới vào cuộc, giả sử có tìm ra bọn chúng thì cũng không cứu được mạng sống của em Đạt. Trong vụ này, có cảm tưởng như ba mẹ của em Đạt quá đơn độc để đối phó với bạn tội phạm từng ngày từng giờ, trong khi Công an phường, quận lại chậm chạp và thờ ơ.

Thiết nghĩ nếu vụ việc này báo Công an TP sớm thì chưa chắc đã có chuyện đau lòng này. Theo mình, phải kỷ luật và đuổi ra khỏi ngành những ông công an  phương, quận liên quan, đã vô trách nhiệm, xem nhẹ tính mạng của công dân. Không thể để tái diễn chuyện đau lòng làm  dư luận bức xúc như vụ trên nữa!

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Trách nhiệm và danh dự


Trong xã hội hiện nay, bên cạnh đến những khẩu hiệu cần phải có trong các phong trào được phát động để kêu gọi toàn dân thực hiện một chủ trương hay những khẩu hiệu chào mừng nhân một sự kiện hay một lễ lớn nào đó của đất nước thì mọi người cũng thường nghe nhiều đến cụm từ “hô khẩu hiệu” để chỉ những người nói suông, nói nhiều mà làm ít hoặc không làm. Và cũng trong giai đoạn mở cửa hội nhập và kinh tế thị trường, chúng ta cũng làm quen nhiều với từ “slogan” (khẩu hiệu). Nói về nó, đã  có không ít ngành, tổ chức, hãng sản xuất đã tìm ra những câu slogan khá ấn tượng cho riêng mình, chẳng hạn câu slogan của ngành du lịch VN giai đoạn 2001- 2004 là “ Việt Nam – điểm đến của thiên niên kỷ mới” hay của hãng giày Nike là “Just do it” (Cứ hành động đi)…Nhân chuyện này, trong một lần ngồi trao đổi về công việc mới đảm nhận, sau khi được bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng của cơ quan, cậu trưởng phòng mới này kể lại cho mình nghe chuyện, mới gợi ý cho mọi người trong phòng đề xuất câu Slogan của phòng, để lấy đó làm tiêu chí hành động trong năm và cho những năm tiếp theo. Trong nhiều  câu slogan đưa ra, mình rất tâm đắc với câu  được thống nhất cao là: “Trách nhiệm và danh dự”.
         
 “Trách nhiệm và danh dự”, câu khẩu hiệu tuy ngắn gọn nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa. Nếu mỗi tổ chức, đơn vị và cả mỗi cá nhân trong bộ máy nhà nước, đều lấy câu khẩu hiệu này là “kim chỉ nam” cho hành động của mình thì chắc chắn sẽ có những chuyển biến tích cực trong kết quả làm việc, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước các cấp ngày càng vững mạnh, trong sạch, chuyên nghiệp và hiện đại hơn. Khi mỗi cá nhân, thành viên của một tập thể, tổ chức đều làm việc với tinh thần trách nhiệm, luôn cố gắng vươn lên vì sự nghiệp chung, dẹp bỏ những toan tính, vụ lợi cá nhân thì tập thể đó chắc chắn sẽ là một tập thể mạnh và sạch. Ý nghĩa của câu slogan này còn được nâng lên một mức cao hơn khi mỗi người đều ý thức được trách nhiệm với công việc mà mình đảm nhiệm, nghiêm túc trong suy nghĩ và hành động của mình. Đặc biệt là đối với những người giữ vị trí lãnh đạo, việc gắn liền trách nhiệm và danh dự trong suy nghĩ và hành động của những người này có tác dụng rất lớn trong quá trình lãnh đạo tập thể do họ  đứng đầu, đạt được thành tích mang tính thực chất và có sức thuyết phục.
Thực tế hiện nay là vẫn còn những tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên chưa làm hết trách nhiệm; thậm chí còn để xảy ra những sai phạm nghiêm trọng mà Đảng và nhà nước đã và đang chỉ đạo xử lý kiên quyết, nghiêm minh. Vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên, không ý thức được trách nhiệm của mình khi đang là một công chức, viên chức và cả khi giữ vị trí lãnh đạo, Họ không trọng danh dự, thể hiện ở việc nói hay nhưng không làm hoặc làm ngược lại, lòng tự trọng của họ rất thấp hoặc “cao” một cách giả tạo, việc làm của học đi ngược lại tôn chỉ, mục đích mà cơ quan đơn vị và tổ chức mà họ công tác, xa hơn là đi ngược lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Chính vì có những con người vô trách nhiệm, thiếu lòng tự trọng mà mới có những cán bộ, đảng viên phải ra trước vành móng ngựa, bị xử lý kỷ luật…, do vi phạm những điều Đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật, chẳng hạn như vi phạm Luật Cán bộ công chức, và các quy định của cơ quan đơn vị và địa phương...

Một khi đã xác định được trách nhiệm cụ thể của mình thì danh dự của mỗi người sẽ được củng cố, lòng tự trọng sẽ được “nuôi dưỡng”, từ đó chiến thắng được những toan tính nhỏ nhen, vụ lợi, mang nặng chủ nghĩa cá nhân. Khi mỗi cá nhân đều có lòng tự trọng, làm việc vì danh dự không chỉ của bản thân mà còn luôn nghĩ về danh dự của tập thể mà mình gắn bó thì sẽ không có những Dương Chí Dũng, Huỳnh Thị Huyên Như, Nguyễn Đức Kiên…
Việc xác định trách nhiệm và danh dự cần được mỗi tập thể và từng con người cụ thể, nhất là cán bộ lãnh đạo khắc ghi vào trong suy nghĩ và thể hiện trong hành động của mình. Đặc biệt, với những đơn vị thuộc các lĩnh vực mang tính đặc thù, nhạy cảm như y tế, giáo dục… thì câu khẩu hiệu trên cần có thêm  câu hai chữ “lương tâm” trong cụm từ chung “trách nhiệm và danh dự”. Vì những công việc, ngành nghề của họ có họ ảnh hưởng rất lớn đến thế hệ trẻ, đến tương lai của đất nước, sinh mạng của con người. Đó cũng là “giáo đức”, “ý đức” mà dư luận đang đề cập đến rất nhiều hiện nay. Tâm huyết với công việc, nhiệm vụ luôn đi đôi với lòng tự trọng, là những “trang bị” rất cần thiết cho cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở đến cấp trung ương.

Cán bộ, công chức cần nêu cao tinh thần vì “danh dự và trách nhiệm”, gương mẫu đi đầu trong các chủ trương của Đảng và nhà nước. Đặc biệt phải xây dựng cho được hình ảnh người cán bộ, công chức có trách nhiệm trong phục vụ nhân dân và các tổ chức, doanh nghiệp. Một khi ai cũng xác định được trách nhiệm mà mình phải thực hiện với lòng nhiệt huyết và lòng tự trọng cao thì quá trình xây dựng một bộ máy trong sạch, vững mạnh sẽ ngày càng sớm đi đến thành công hơn.

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

MIẾU THỜ QUAN VÀ NGÔI TRƯỜNG MANG TÊN GIÁM ĐỐC SỞ

Sáng nay mở báo Tuổi trẻ ra đọc, lướt qua các tựa đề trên trang 1 thấy có bài: “Miều thờ quan và ngôi trường mang tên giám đốc Sở”. Ban đầu, mình chứ ngỡ đây là loại bài phê phán, chống tiêu cực vì bây giờ nghe thấy chữ “quan” ‘ là hay nghĩ đến đến mấy vụ tiêu cực. Tò mò mở ngay trang 18 đọc và mới vỡ lẽ đây là một phóng sự trong mục “Chuyện ấy bây giờ” của tác giả Nguyên Linh. Càng đọc mình càng thấy thấm thía và cảm động về một câu chuyện có thật ở vùng Phá Tam Giang, khi người dân ở xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế đã lập miếu thờ một “ông quan” có tên là Phan Thế Phương, nguyên là giám đốc Sở Thủy sản Thừa Thiên - Huế, người đã lặn lội  cùng người dân vùng phá Tam Giang và bày cách cho họ nuôi tôm, nuôi cá  để đến bây giờ cả vùng đó dân sung túc, ấm no. .Người dân ở đây coi ông là “Thành hoàng” nên  đã lập đền thờ ông ngày ngoài hồ tôm. Hơn thế nữa, đúng dịp kỷ niệm 22 năm ngày mất của ông, người dân khắp vùng Phá Tam Giang kéo về xã Quảng Công để chứng kiên Lễ tuyên bố đặt tên và khánh thành cổng trường mang tên Phan Thế Phương. Ông hiệu trưởng ở đây kể lại rằng: “Người già kể cho người trẻ, cô giáo kể cho học sinh, hình ảnh của một ông giám đốc sở đã trở thành vị cứu tinh của người dân đầm phá. Chuyện một ông quan không quản ngại khó khăn, lặn lội về vùng quê nghèo khó, mang theo khát vọng giúp người dân nghèo đổi đời, đã trở thành giáo án sinh động, là gương sáng mà thầy trò noi theo”.
Cũng cần nói đến một chút về ông “quan” này: Ông Phương tham gia cách mạng từ năm 1945, từng giảng dạy tại khoa Thủy sản - Trường Đại học Nông nghiệp I, vào Đảng từ năm 16 tuổi, ông làn Giám đốc sở Thủy Sản Thừa Thiên - Huế từ năm 1983, ông mất do tai nạn giao thông năm 1991 trên đường đi công tác miền Nam tìm hướng đi cho xuất khẩu thủy sản. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới vào năm 2003. Được tin ông mất, người dân đau đớn như mất người thân, hôm tiến đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng, có hàng vạn người dân chài vùng đầm phá Tam Giang lặn lội từ sớm lên Huế để tiễn biệt ông và chưa có đám tang của vị lãnh đạo cấp tỉnh nào đông đên như vậy.

Làm quan như vậy mới đúng nghĩa  là “quan”, quan của dân, vì dân, nói “chính trị” một chút thì đó là một người Cộng sản chân chính, chứ không như những ông quan xa dời dân, hách dịch, nhũng nhiễu, miệng nói toàn điều hay mà toàn làm trái, làm bậy. Người dân vùng đầm phá Tam Giang và cả tỉnh Thiên Huế có thể tự hào về một người lãnh đạo như vậy, không như một vị cựu Bí thư cũng của tỉnh này đã nghỉ hưu, từng gây tai tiếng với tiếp viên trong nhà hàng, rồi giả mạo thành tích, cướp công người khác để được phong anh hùng, vừa bị phanh phui cách đây không lâu. Những ông “quan” như vậy chỉ làm cho người đời rẻ khinh và khi mất đi cũng chẳng có mấy ai đến thắp cho nén nhang.

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

HAI THÀNH PHỐ - MỘT NIỀM TỰ HÀO

Mình có may mắn khi được gọi hai địa danh của miền Trung là quê hương thân yêu của mình. Một thành phố - đô thị cổ Hội An- là quê hương thứ nhất và một thành phố  - Đà Nẵng – quê hương thứ hai, nơi lưu dấu những kỷ niệm thuở học trò và những năm tháng làm việc, đồng cam cộng khổ cùng bạn bè đồng nghiệp xây dựng mảnh đất này, từ khi còn là một thành phố trực thuộc tỉnh QN-ĐN đến khi “ra riêng”, trở  thành thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với mình cả hai cái tên ấy đều để lại trong lòng một tình yêu rất đặc biệt, tuy riêng nhưng chung, chung mà riêng và trên hết là niềm tự hào khó tả.
Xét về “tuổi tác” của hai thành phố anh em nằm kề cận nhau này, Hội An “già” hơn với cái tên đã trở thành thương hiệu là “phố cổ Hội An” và thực ra nó cũng “cổ” hơn Đà Nẵng. Tuy “lớn” hơn nhưng “sinh sau đẻ muộn”, Đà Nẵng – thành phố trẻ- nét xưa cũ chỉ phảng phất ở vài nơi, trong khi nét hiện đại thì ngày càng thể hiện cũng với sự trưởng thành theo thời gian.
Tình yêu, niềm tự hào về hai thành phố này, nếu xét về lẽ tự nhiên như mọi con người bình thường khác, thì cũng là chuyện thường tình của một người yêu quê cha đất tổ, yêu nơi cưu mang, nuôi dưỡng mình trường thành. Nhưng điều đặc biệt là sự tự hào được nhân đôi khi cả hai thành phố này đều nhận được những đánh giá khá thiện cảm của bạn bè gần xa, nhất là những đánh giá, nhận xét của du khách và các tổ chức có uy tín của thế giới đối với Đà Nẵng và Hội An, là sự khẳng định vị thế, sự  thân thiện gần gũi của cảnh vật, con người; vẻ đẹp của tự nhiên, nét cổ kính và hiện đại của những công trình kiến trúc, sự trong lành về môi trường sống, sự an toàn về an ninh trật tự…Tất cả, làm cho Đà Nẵng và Hội An có những nét đặc trưng riêng mà không phải đô thị nào của nước ta cũng có được. Và cũng có thể thể nói rằng, gần như là chưa có đô thị nào của nước ta lại nhận được nhiều danh hiệu, sự vinh danh, bầu chọn của các tổ chức quốc tế như Đà Nẵng và Hội An, mặc dù cả hai đều năm ở dải đất miền Trung  nắng dữ mưa nhiều, bão gió, lũ lụt thường xuyên.
Về những danh hiệu riêng, xin nói về “Phố cổ” trước. Đầu tiên là danh hiệu được Unesco vinh danh cách đây vừa tròn 14 năm – Di sản văn hóa thế giới. Tiếp đến, trong năm 2012, sau khi được vinh danh trong danh sách 10 điểm đến lý tưởng cho các kỳ nghỉ lễ dành cho khách du lịch nước ngoài (Top 10 holiday destinations in Asia) bởi tạp chí The Smart Travel Asia 2012, một tạp chí du lịch trực tuyến hàng đầu, có uy tín của châu Á với hơn một triệu độc giả trên toàn thế giới truy cập mỗi năm, Hội An một lần nữa vinh dự được trao Giải Vàng “Thành phố được yêu thích nhất năm 2012” từ sự bầu chọn của Tạp chí du lịch Wanderlust (Vương quốc Anh). Kết quả được rút ra từ cuộc bình chọn từ các độc giả của tạp chí dựa trên 6 tiêu chí là chất lượng dịch vụ nhà nghỉ, nhà hàng, mua sắm, môi trường, văn hóa và mức độ thân thiện. Hội An xếp vị trí thứ 8 với tổng điểm là 76,4/100 so với thành phố Bangkok  với 83 điểm xếp hạng nhất trong danh sách này. Phố cổ được biết đến và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng khách du lịch nhờ vào sự đón tiếp nồng hậu của người dân địa phương và một bầu không khí trong lành sạch sẽ. Cũng cần biết rằng, Tạp chí Wanderlust công bố Hội An đứng đầu trong top 10 thành phố yêu thích hàng đầu thế giới, trên cả Cusco của Peru, Kyoto (Nhật Bản), Copenhaghen (Đan Mạch), Venice (Ý) và New York, San Francisco (Mỹ). Tạp chí Wanderlust có lượng độc giả hơn 100 nghìn người ở 112 quốc gia. Việc vinh danh Hội An dựa trên những trải nghiệm trong các chuyến du lịch của gần 3.000 độc giả từng đến Hội An, họ đã bỏ phiếu đánh giá mức độ hài lòng lên tới 97,18%. Cũng theo tạp chí này, năm 2012, có tất cả 976 thành phố trên toàn thế giới được bầu chọn, nhưng không nơi nào được đánh giá cao như Hội An. Du khách đã cho rằng, Hội An là một thành phố xinh đẹp và rất dễ thương với những bãi biển và phong cảnh hấp dẫn.
Nói đến Đà Nẵng, có lẽ đầu tiên là đi sự kiện năm 2005, Đà Nẵng lọt vào danh sách các bãi biển đẹp nhất hành tinh do Tạp chí kinh doanh Forbes bầu chọn. Đây là Tạp chí được biết đến như một cơ quan chuyên điều tra, nghiên cứu thực tế và tổng kết ra những cái nhất đáng quan tâm của thế giới hàng năm. Những đánh giá và xếp hạng của Forbes được coi là xác thực nhất, có giá trị hơn mọi tạp chí kinh doanh khác trên thế giới, nhờ uy tín đặc biệt và sự kỳ công của tạp chí này trong các cuộc điều tra. Đà Nẵng có đủ các yếu tố thông thường nhất khi nói về một bãi biển như: bờ cát dài và phẳng, ánh nắng đủ để tắm nắng, sóng gió vừa phải đủ để chơi các môn thể thao ven biển. Chính vì vậy mà  đáp ứng được hầu hết các tiêu chí Forbes nêu ra và thoả mãn đa số yêu cầu phong phú đa dạng của du khách toàn cầu. Có thể nói, sự hấp dẫn theo Forbes còn cao hơn rất nhiều vẻ đẹp đơn thuần của mỗi bãi biển. Ngoài ra còn phải kể đến các nguyên nhân quan trọng khác khiến Đà Nẵng lọt vào "mắt xanh" như: chính quyền và ngành du lịch địa phương kiên định chính sách thúc đẩy du lịch; thẳng tay với các tệ nạn và thói đeo bám, xin xỏ và quấy rầy du khách; tổ chức đón các đoàn khách quốc tế từ đầu năm để chuẩn bị tinh thần cho họ vào mùa hè; sự hoạt động hiệu quả và đạt tiêu chuẩn quốc tế của các khu nghỉ dưỡng như Furama Resort... được tặng danh hiệu “Thương hiệu uy tín và sang trọng trong ngành du lịch dịch vụ và lưu trú tại miền Trung”.
Năm 2012, một tin vui đến với người dân Đà Nẵng là, khi tại hội nghị năng lượng Diễn đàn hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 44 diễn ra tại Washington vào tháng 11/2012, Đà Nẵng đã chính thức được thế giới công nhận là 1 trong 20 thành phố trên thế giới có không khí sạch bởi hàm lượng cacbon thấp nhất. Đây là điều kiện giúp Đà Nẵng triển khai xây dựng thành công đề án “Đà Nẵng - Thành phố môi trường” . Và cách đây không lâu, độc giả của tạp Smart Travel Asia đã bầu chọn Đà Nẵng là 1 trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á năm 2013. Kết quả bầu chọn được dựa trên cuộc bình chọn “Những sản phẩm, dịch vụ du lịch tốt nhất năm 2013” do Tạp chí du lịch điện tử Smart Travel Asia tổ chức lấy ý kiến độc giả trong thời gian qua.
          Trong những ngày gần kết thúc năm 2013, một tin vui nữa đến với Đà Nẵng nữa là khi Quỹ Rockefeller đã công bố thành phố Đà Nẵng được lựa chọn trong số 33 thành phố đầu tiên được tham gia “Chương trình 100 thành phố có khả năng chống chịu” do Quỹ Rockefeller khởi xướng nhân kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Quỹ. Có tổng cộng 400 thành phố trên khắp thế giới tham gia nộp hồ sơ để chọn ra 100 thành phố và Đà Nẵng  đã vinh dự nằm trong số 33 thành phố đầu tiên, trong đó châu Á có  8 thành phố của 8 quốc gia và Đà Nẵng là thành phố duy nhất của Việt Nam được chọn trong đợt này.  Hội đồng xét chọn gồm nhiều nhân vật nổi tiếng, có uy tin của thế giới, đáng chú ý có cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton và cựu tổng thống Nigeria.
Cuối cùng một  niềm tự hào, một niềm vui chung đến từ hai cái tên thân thương khi Đà Nẵng và Hội An là hai thành phố của Việt Nam đồng loạt được Tổ chức Định cư con người Liên Hiệp Quốc tại Châu Á (UN Habitat châu Á) lựa chọn trao giải thưởng “Phong cảnh thành phố châu Á năm 2013”. Giải thưởng này được xây dựng nhằm vinh danh những thành phố, vùng miền… được xem là điển hình trong kiến thiết cảnh quan. Giải thưởng năm 2013  này có chủ đề Thành phố, niềm tự hào của người dân. Những thành phố được trao giải được Ban tổ chức đánh giá trên các tiêu chí chính gồm: Sự kết hợp hài hòa giữa môi trường địa phương và môi trường khu vực. Thành phố an toàn, thuận tiện và bền vững. Thành phố phát triển trên cơ sở tôn trọng văn hóa và lịch sử của địa phương và khu vực. Chất lượng thẩm mỹ cao. Những đóng góp cho phát triển địa phương, khả năng trở thành điển hình cho các thành phố khác.
          Thật tự hào khi có hai thành phố quê hương cùng được quốc tế vinh danh trong cũng một thời điểm như vậy. Để có được những đánh giá tốt đẹp, khách quan trên của bạn bè quốc tế là cả một quá trình phấn đấu  dựng xây, chung tay góp sức của lãnh đạo và mỗi người dân Đà Nẵng - Hội An trên nên tảng, bản sắc của cái “nôi văn hóa” mang tên Đất Quảng.
Năm 2013 sắp khép lại với nhưng bề bộn, hậu quả của thiên tai bão lụt và khó khăn của nền kinh tế nhưng với  ý chí quyết tầm và truyền thống vốn có của mình, người Đà Nẵng và  Hội An sẽ viết tiếp trang sử vàng mà cha ông để lại xứng đáng với nhưng danh hiệu mà cả nước và bạn bè quốc tế đã  dành tặng cho mình.




Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

NGƯỜI SIÊU TỐT

Cách đây mấy ngày, đọc trên Báo Tuổi trẻ có câu chuyện về chị Nguyễn Thị Thuật ở  thôn Du Nghệ, thị trấn Quốc Oai (Hà Nội), nhà thuộc thuộc diện nghèo nhất vùng, học vấn cũng thấp, làm nghề buôn bán đồng nát, quanh năm vẫn chẳng đủ nuôi hai con ăn học vậy mà  khi  vô tình lượm được 10 cây vàng trong một lần đi mua phế liệu,  vợ chồng chị đã nhất trí với nhau là tìm cho được người bị mất vàng để trả cho họ. Cũng nên biết rằng trị giá của 10 cây vàng đó là hơn 400 triệu đồng, một số tiền mà cả hai anh chị làm nghề phế liệu 10 năm tích cóp cũng không thể có được. Vậy mà chị nói việc đó như là một chuyện bình thường, mà  đâu chỉ có lần trả lại vàng đó, chị  đã từng “trả lại tiền cho người ta trong “vô số lần khác”. Chị Thuật bảo, đi mua phế liệu dù có vớ được 30.000 đồng, 50.000 đồng chị cũng sẽ tìm lại người mất để trả. Trong 5 năm đi mua phế liệu, chị từng nhiều lần trả lại người khác số tiền lên đến 3-5 triệu đồng. Chị Thuật bảo giàu hay nghèo đều do chính tay mình làm ra chứ không thể vui vẻ hưởng thụ những đồng tiền nhặt được của người khác. Chị Oanh, chủ nhân của 10 cây  vàng bị mất, sau khi nhận lại đủ số vàng trên  có biếu lại chị Thuật 2 chỉ vàng nhưng chị  đã kiên quyết không nhận.
Việc làm của chị Thuật là tấm gương sáng đáng để chúng ta trân trọng và tôn vinh. Khác hẳn với những người “xấu xí”  vừa mới đây thôi khi đổ xô vào cướp những lon bia đổ ra đường  từ một vụ tai nạn giao thồng, mặc cho người tài xế  đã hết lời van xin.

Trong xã hội chúng ta, bên cạnh những người xấu còn không ít người tốt như chị Thuật, trong số họ, có những người trình độ văn hóa thấp và rất nghèo nhưng họ không hèn và có tư cách sáng ngời, khác hẳn với một số kẻ tuy có học nhưng tham lam vô độ, tìm mọi cách để bòn rút tiền của của nhà nước, của nhân dân, không  từ một thủ đoạn nào và  không biết đến liên sỉ là gì.

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Tản mạn chuyện công chức làm giàu

Mới đây bên lề Quốc hội, đại biểu Trần Du lịch đã phát biểu với báo chí rằng “Cũng nên giáo dục một quan điểm ngay từ đầu, từ nhỏ: Anh đã làm công chức thì hãy xác định là phục vụ cho nhân dân, đừng bao giờ anh mơ tưởng đến làm giàu. Muốn làm giàu thì hãy ra khu vực tư nhân mà làm. Làm quan chức mà để mong giàu có thì phải trị ngay cái tư tưởng đó”. Ý kiến này của vị đại biểu Quốc hội, nhìn từ  góc độ của một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp là rất chính xác và nói một cách dân dã là rất chí lý, nhưng nó sẽ thuyết phục hơn khi người công chức, viên chức của chúng ta có đồng lương đủ sống không phải vướng bận gì về chuyện “cơm áo gạo tiền” để tập trung dồn hết tâm sức mà cống hiến, phục vụ bộ máy mà mình được tuyển chọn, sử dụng, chứ không phải sống với đồng lương khiêm tốn, để rồi phải tranh thủ kiếm tiền để lo cho gia đình, con cái, một tình trạng khá phổ biến hiện nay.
Với vai trò là nhân tố cấu thành bộ máy nhà nước, trách nhiệm của công chức là nặng nề, sự chuyên nghiệp, trong sạch của họ là nền tảng của một bộ máy nhà nước vững mạnh. Chính vì vậy mà trong chủ trương cải cách hành chính, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ công chức luôn luôn được đề cập. Trong sự đan xen, mâu thuẫn giữa bản chất của công chức mà một bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh với những nhu cầu rất đời thường của mỗi con người, để làm được một công chức đúng nghĩa quả là không dễ. Phải dũng cảm mà nhìn thẳng vào sự thật và nói với nhau một cách “đời thường” một chút là, giữa một bên là  sự cám dỗ, sức hấp dẫn của đồng tiền và bên kia là đồng lương ít ỏi của công chức, viên chức, quả là một ranh giới khá mỏng manh. Với mặt bằng đồng lương  như hiện nay, thì thu nhập của công chức quả là khiêm tốn. Để giữ được mình, để lương tâm không phải cắn rứt vì làm những điều sai trái, vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực v.v…là một thử thách luôn đặt ra cho những công chức chân chính.
Đối diện với thực tế là lương không đủ sống thì tất yếu buộc con người phải toan tính, mưu cầu cuộc sống. Một vị lãnh đạo một cơ quan công quyền, nay đã nghỉ hưu, từng bộc bạch với người viết rằng, thật lòng là khi nhận cái phong bì của cơ sở cho nhân một dịp lễ tết nào đó, nôm na gọi là “lộc”, tuy đó không phải là tiền chạy chọt hay hối lộ gì nhưng vẫn “cảm thấy nhục lắm chứ”. Vì nghĩ đến chuyện ngày mai tiền học cho con, tiền chữa bệnh cho mẹ già lấy ở đâu mà đành tặc lưỡi nhận cái phong bì đó. Tất nhiên nếu với đồng lương đủ sống, đủ lo cho những chuyện đời thường của bản thân, của gia đình thì người ta đâu đến nỗi phải nhận những khoản “lộc” trong tâm trạng không lấy gì làm thoải mái như vậy!
Cũng xuất phát từ chuyện lương không đủ sống mà nhiều cơ quan đã tạo điều kiện cho công chức viên chức kiếm thêm thu nhập bằng cách “bật đèn xanh” để họ kiếm thêm những khoản ngoài lương. Từ đó mà có người đã nhận xét rằng, hiếm có nước nào cho phép công chức, viên chức làm thêm, hành nghề tư nhân rộng rãi, thoải mái như nước ta. Trong thực tế thì mức lương chính thức của công chức quá thấp so với khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Ngay cả so sánh với khu vực doanh nghiệp Nhà nước, đã tạo ra sự không công bằng trong xã hội. Lương không đảm bảo cuộc sống của bản thân công chức và gia đình họ (có thể ước tính chỉ đáp ứng 30 – 40% nhu cầu tối thiểu của một gia đình công chức). Vì thế, công chức buộc phải xoay sở để có thêm thu nhập; trong đó có những thu nhập hợp pháp. Song, có khá nhiều thu nhập không chính đáng, bất hợp pháp dựa vào quyền lực của công chức (những người có quyền cấp đất, cho thuê đất, có quyền duyệt dự án đầu tư, cấp tín dụng, cho khoanh nợ; có quyền bổ nhiệm chức vụ, có quyền can thiệp vào kết quả xét xử của tòa án…) mà thực chất là tham nhũng. Không hiếm những đối tượng công chức vật vã kên than” lương không đủ sống, rồi hàng loạt lệnh cấm, quy định ban ra nhưng một thực tế vẫn diễn ra là, trở thành công chức là niềm mơ ước của số đông. Thậm chí có người sẵn sàng đổi cả một khoản tiền tương đương hàng trăm tháng lương để được… làm công chức!
Để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nhất là trong điều kiện khó khăn, cần đẩy mạnh tái cơ cấu hiện nay thì đòi hỏi phải có được một bộ máy hành chính năng động, đội ngũ công chức tinh hoa, công tâm. Muốn vậy bộ máy phải tinh gọn chứ không cồng kềnh, kém hiệu quả như hiện nay. Cái tỉ lệ 1% hay 30% “công chức cắp ô” đến nay vẫn trong vòng tranh cãi nhưng không khó nhận ra nhiều người mang tiếng là công chức nhà nước nhưng không có nhiều việc để làm, cứ tà tà sáng đi chiều về, đi trễ về sớm, túc tắc làm việc, lương tháng nhận đều, ung dung, thong thả, đi theo đó là những khoản bổng lộc, “hoa rơi” nhận đều đều, mà có khi còn nhiều hơn lương.

Đến đây, quay trở lại câu nói của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch, muốn làm giàu sao người ta không ra làm ngoài tư nhân mà vẫn có người bằng mọi giá để vào làm công chức!? Phải chăng nơi đó có chỗ để “làm giàu”?!  Một nghịch lý không khó nhận ra về lương công chức và mức sống của họ khong tương xứng như vậy mà mà chúng ta vẫn không đi thẳng vào tìm nguyên nhân, nguồn cội của những nghịch lý đó trong khi vẫn “đẩy mạnh cải cách tiền lương, tinh giản biên chế, chống tham nhũng, lãng phí” từ hết năm này đến năm khác. Cứ để tình trạng đó kéo dài mà không đi vào giải quyết căn nguyên của vấn để thì sẽ tiếp tục tồn tại một bộ phận công chức giàu có nhưng cũng…đi tù vì tham nhũng lúc nào không hay, tạo ra những công chức có lối sống làm giàu bất chấp thủ đoạn khiến băng hoại giá trị đạo đức trong xã hội. Đó chính là thực tế và tương lai gần rất đáng lo ngại đố với bộ máy nhà nước đang rất cần tinh gọn và trong sạch của chúng ta.